Chăm sóc sức khỏe hậu CovidMua Ngay >

Mecam 7.5mg (Hộp 3 vỉ x 10 viên)

: P01604

Lưu ý: Sản phẩm này chỉ bán khi có chỉ định của bác sĩ, mọi thông tin trên Website, App chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng xác nhận bạn là dược sĩ, bác sĩ, nhân viên y tế có nhu cầu tìm hiểu về sản phẩm này

Hoạt chất: Meloxicam 7.5mgCông dụng: Điều trị triệu chứng trong viêm khớp dạng thấp, thoái hóa khớp.Đối tượng sử dụng:Người lớn và trẻ em trên 18 tuổiHình thức: Viên nén bao phimThương hiệu: Sanofi AventisNơi sản xuất: Công ty cổ phần dược phẩm AMPHARCO U.S.A (Việt Nam)*Thuốc chỉ dùng theo đơn của bác sĩ

Xem các nhà thuốc còn hàng

product-brand

Sanofi GEM

Các hình thức giao hàng

star-iconFreeship Cho mọi đơn hàng trong tháng 5.2022

GHN

Ahamove

Miễn phí vận chuyển cho đơn hàng từ 300.000 VNĐ.

Thuốc tốt giá rẻ, nếu không rẻ, hoàn tiền chênh lệch.

Tích lũy điểm thưởng và sử dụng điểm cho mọi giao dịch.

Thành phần

- Hoạt chất: Meloxicam 7.5mg

- Tá dược: Copovidon VA 64, Sodium citrate, Lactose, Microcrystalline cellulose 101, Colloidal anhydrous silica, Sodium starch glycolate, Magnesi stearat, Opadry II white, Tartrazine lake vừa đủ 1 viên.

Chỉ định (Thuốc dùng cho bệnh gì?)

Mecam 7.5 được chỉ định điều trị triệu chứng trong viêm khớp dạng thấp, thoái hóa khớp.

Chống chỉ định (Khi nào không nên dùng thuốc này?)

Không dùng Mecam 7.5 trong các trường hợp sau:

- Giảm đau quanh phẫu thuật ở bệnh nhân phẫu thuật bắc cầu động mạch vành.

- Mẫn cảm với meloxicam hay bất cứ thành phần nào của thuốc, có khả năng phản ứng chéo với aspirin và các thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) khác.

- Bệnh nhân có dấu hiệu tiến triển của bệnh hen, polyp mũi, phù vận mạch hay nổi mề đay khi dùng aspirin hay các thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) khác.

- Bệnh nhân bị loét dạ dày – tá tràng tiến triển.

- Bệnh viêm ruột hoạt động (bệnh Crohn hoặc viêm loét đại tràng).

- Suy gan nặng hay suy thận nặng không lọc máu.

- Suy tim nặng chưa được kiểm soát.

- Trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi.

- Phụ nữ có thai và nuôi con bằng sữa mẹ.

- Dùng đồng thời các thuốc ức chế CYP 2C9 (Ví dụ: sulfaphenazole, sulfinpyrazone, sulfamethoxazole và fluconazole).

- Dùng meloxicam bị chống chỉ định ở bệnh nhân mắc bệnh di truyền hiếm gặp như không dung nạp galactose, do có thành phần lactose trong thuốc này.

- Như tất cả các thuốc NSAID, meloxicam bị chống chỉ định ở bệnh nhân xuất huyết huyết mạch máu não gần đây hoặc được chẩn đoán rối loạn xuất huyết toàn thân.

Liều dùng

* Cách dùng:

Mecam 7.5 được dùng đường uống, sau bữa ăn.

* Liều dùng:

- Người lớn:

+ Viêm khớp dạng thấp, thoái hóa khớp: khởi đầu 7.5mg/ngày và có thể dùng tối đa 15mg/ 1 lần/ngày.

+ Khi điều trị lâu dài, nhất là ở người cao tuổi hoặc người có nhiều nguy cơ có tai biến phụ, liều khuyến cáo là 7.5mg/ 1 lần/ngày.

+ Không được vượt quá liều 15mg/ngày.

+ Đợt đau cấp của thoái hóa khớp: 7.5mg/ 1 lần/ngày. Khi cần (hoặc không đỡ), có thể tăng tới 15mg/lần/ngày.

- Người cao tuổi: Liều dùng khuyến cáo 7.5mg/ 1 lần/ngày. Cũng như các NSAID khác, phải thận trọng khi dùng meloxicam ở người cao tuổi.

- Suy gan, suy thận: nhẹ và vừa, không cần phải chỉnh liều; nếu suy nặng, không dùng.

- Suy thận chạy thận nhân tạo: liều không được vượt quá 7.5mg/ngày. 

Tác dụng phụ

Dữ liệu an toàn pha II / III của meloxicam bao gồm 10.122 bệnh nhân viêm xương khớp và 1.012 bệnh nhân viêm khớp dạng thấp điều trị với meloxicam 7.5mg/ngày và 3.505 bệnh nhân viêm xương khớp và 1.351 bệnh nhân viêm khớp dạng thấp điều trị với meloxicam 15mg/ngày. Meloxicam với các liều trên được dùng ở 661 bệnh nhân ít nhất sáu tháng và 312 bệnh nhân trong vòng ít nhất một năm. Khoảng 10.500 những bệnh nhân này được điều trị trong 10 thử nghiệm viêm xương khớp có đối chứng với hoạt chất và/hoặc giả dược và 2.362 các bệnh nhân này đã được điều trị trong 10 thử nghiệm về bệnh viêm khớp dạng thấp có đối chứng với hoạt chất và/hoặc giả dược. Tác dụng phụ dạ dày ruột được báo cáo thường xuyên nhất ở tất cả các nhóm điều trị qua các thử nghiệm meloxicam.

Một thử nghiệm 12 tuần, ngẫu nhiên, mù đôi, đa trung tâm được tiến hành ở bệnh nhân bị viêm xương khớp ở gối hoặc xương hông để so sánh hiệu quả và an toàn của meloxicam với giả dược và với một chất đối xứng.

Liều cao hơn của meloxicam (22.5mg và cao hơn) đi kèm với nguy cơ bị tác dụng phụ dạ dày ruột nghiêm trọng, do đó liều hàng ngày cửa meloxicam không nên vượt quá 15mg.

Sau đây là danh sách các tác dụng phụ xảy ra ở < 1% của các bệnh nhân mà có thể liên quan đến việc dùng meloxicam. Thông tin này dựa trên các thử nghiệm lâm sàng liên quan đến bệnh nhân điều trị meloxicam viên nén hoặc viên nang với liều uống hàng ngày 7.5 hoặc 15mg trong khoảng thời gian lên đến 18 tháng (thời gian điều trị trung bình 127 ngày).

- Rối loạn máu và hệ bạch huyết: Bất thường công thức máu (bao gồm công thức bạch cầu), giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, thiếu máu. Dùng đồng thời với một thuốc có khả năng độc tủy xương, cụ thể methotrexate, dường như là một yếu tố dẫn đến khởi phát giảm tế bào máu.

- Rối loạn tim: Hồi hộp.

- Rối loạn tai và tiền đình: Ù tai.

- Rối loạn dạ dày ruột: Thủng dạ dày ruột, xuất huyết dạ dày ruột tiềm ẩn hoặc nhìn thấy được, viêm loét dạ dày tá tràng, viêm đại tràng, viêm thực quản, viêm miệng. Xuất huyết dạ dày-ruột, loét hoặc thủng có khả năng tử vong.

- Rối loạn gan mật: Bất thường thoáng qua các thông số chức năng gan (ví dụ: men gan và bilirubin tăng).

- Rối loạn hệ thần kinh: Ngủ gà.

- Rối loạn thận và tiết niệu: Xét nghiệm chức năng thận bất thường (tăng creatinine và/hoặc urê huyết thanh).

- Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất: Khởi phát cơn hen ở những người dị ứng với aspirin hoặc các NSAID khác.

- Rối loạn da và mô dưới da: Nồi mề đay, nhạy cảm ánh sáng.

- Rối loạn mạch máu: Chứng đỏ ửng.

Các tác dụng phụ của thuốc sau khi đưa ra thị trường

Các báo cáo bổ sung về tác dụng phụ có thể liên quan đến dùng meloxicam trong suốt thời gian đưa ra thị trường trên khắp thế giới được bao gồm dưới đây:

- Rối loạn toàn thân và tại chỗ dùng thuốc: Trong trường hợp hiếm, các thuốc khác thuộc nhóm này được báo cáo là gây viêm màng não.

- Rối loạn mắt: Rối loạn thị giác bao gồm nhìn mờ, viêm kết mạc.

- Rối loạn dạ dày ruột: Viêm dạ dày.

- Rối loạn qan mật: Viêm gan.

- Rối loạn hệ miễn dịch: phản ứng phản vệ và quá mẫn tức thời khác

- Rối loạn tâm thần: Trạng thái lú lẫn, mất phương hướng, tâm trạng thay đổi.

- Rối loạn thận và tiết niệu: Suy thận cấp. Dùng NSAID có thể liên quan đến rối loạn tiểu tiện, bao gồm cả bí tiểu cấp.

- Rối loạn vú và hệ sinh sản: Vô sinh nữ, sự rụng trứng bị trì hoãn

- Rối loạn da và mô dưới da: Hội chứng hoại tử da nhiễm độc, Hội chứng Stevens-Johnson, phù mạch, viêm da bóng nước, hồng ban đa dạng

- Rối loạn tim mạch: Nguy cơ huyết khối tim mạch (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc)

Các tác dụng phụ khác

Các tác dụng phụ được báo cáo từ các thử nghiệm lâm sàng hoặc từ báo cáo tự phát, mà khi đó bằng chứng nguyên nhân do sử dụng meloxicam không rõ ràng, như sau: suy tim, đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, loạn nhịp tim, viêm mạch máu, giảm bạch cầu, viêm thận mô kẽ, co giật, suy gan.

Thận trọng (Những lưu ý khi dùng thuốc)

- Các biến cố tim mạch do huyết khối:

Các thuốc chống viêm không steroid (NSAID), không phải aspirin, dùng đường toàn thân có thể làm tăng nguy cơ xuất hiện biến cố huyết khối tim mạch, bao gồm cả nhồi máu cơ tim và đột quy, có thể dẫn đền tử vong. Nguy cơ này có thể xuất hiện sớm trong vài tuần đầu dùng thuốc và có thể tăng lên theo thời gian dùng thuốc. Nguy cơ huyết khối tim mạch được ghi nhận chủ yếu ở liều cao. Bệnh nhân và bác sĩ cần được cảnh báo về diễn tiến của các biến cố tim mạch, ngay cả khi bệnh nhân không có triệu chứng tim mạch trước đó. Người bệnh cần được thông tin về các triệu chứng của biến cố huyết khối tim mạch và các bước cần làm khi có các triệu chứng này. Bác sĩ cần đánh giá định kỳ sự xuất hiện của các biến cố tim mạch.

Để giảm thiểu nguy cơ xuất hiện biến cố huyết khối tim mạch, cần sử dụng meloxicam ở liều hàng ngày thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhắt có thể. Không có bằng chứng nhất quán về việc dùng đồng thời aspirin làm giảm thiểu nguy cơ xuất hiện biến cố huyết khối tim mạch đi kèm với việc sử dụng các NSAID. Sử dụng đồng thời aspirin và một NSAID lại làm

tăng nguy cơ xuất hiện các biến cố nghiêm trọng ở đường tiêu hóa.

- Các tác động trên đường tiêu hóa - Nguy cơ xuất hiện loét, xuất huyết, thủng:

Các NSAID, bao gồm meloxicam, có thể gây các biến cố bất lợi nghiêm trọng ở đường tiêu hóa bao gồm viêm, chảy máu, loét, và thủng ở dạ dày, ruột non, hoặc ruột già, có thễ dẫn đến tử vong. Các biến cố bất lợi nghiêm trọng này có thể xảy ra bất cứ lúc nào trên những người điều trị NSAID, có hoặc không có triệu chứng cảnh báo. Trong số 5 người bệnh xuất hiện các biến cố bất lợi nghiêm trọng ở dạ dày-ruột, chỉ có 1 người là có triệu chứng. Loét, xuất huyết đại thể, hoặc thủng ở dạ dày-ruột gây ra bởi các NSAID xảy ra ở khoảng 1% số bệnh nhân điều trị từ 3-6 tháng, và khoảng 2-4% số bệnh nhân điều trị trong 1 năm. Xu hướng tiếp tục điều trị NSAID dài hạn làm tăng khả năng xảy ra các biến cố bất lợi nghiêm trọng tại một lúc nào đó trong tiến trình điều trị. Tuy nhiên, ngay cả với điều trị ngắn hạn không phải là không có nguy cơ. Kê toa NSAID bao gồm meloxicam, phải cực kỳ thận trọng ở những người có tiền sử viêm loét hoặc xuất huyết tiêu hóa ở dạ dày-ruột. Những bệnh nhân sử dụng NSAID và có tiền sử loét dạ dày và/hoặc xuất huyết tiêu hóa ở dạ dày-ruột có nguy cơ xuất huyết tiêu hóa ở dạ dày-ruột tăng gấp 10 lần so với những người không có tiền sử này. Các yếu tố nguy cơ với xuất huyết tiêu hóa ở dạ dày-ruột bao gồm sử dụng đồng thời các corticosteroid uống hoặc các thuốc kháng đông, điều trị dài hạn với NSAID, hút thuốc, uống rượu, tuổi cao, và tổng trạng sức khỏe kém. Hầu hết các báo cáo tự phát về các biến cố đường tiêu hóa có tử vong là ở những người cao tuổi hoặc suy kiệt, vì thế phải chú ý đặc biệt khi điều trị thuốc ở những đối tượng này.

Để giảm thiểu nguy cơ xảy ra biến cố bất lợi đường tiêu hóa ở những bệnh nhân điều trị với một NSAID, cần sử dụng thuốc ở liều hàng ngày thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất có thể. Bệnh nhân và bác sĩ cần được cảnh báo về triệu chứng và các dấu hiệu của viêm loét hoặc xuất huyết tiêu hóa trên trong khi điều trị với meloxicam và phải bất đầu đánh giá và điều trị ngay nếu nghi ngờ có biến cố bất lợi nghiêm trọng ở đường tiêu hóa. Việc xử trí này bao gồm việc ngừng điều trị meloxicam cho đền khi biến có bất lợi nghiêm trọng ở đường tiêu hóa được loại bỏ. Đối với bệnh nhân nguy cơ cao, xem xét các điều trị thay thế khác không phải thuốc NSAID.

- Các tác động lên gan:

Tăng đến mức ranh giới các xét nghiệm chức năng gan có thể xảy ra ở 15% số bệnh nhân uống các NSAID bao gồm meloxicam. Những giá trị xét nghiệm bất thường này có thể tiến triển, có thể không thay đổi, hoặc có thể thoáng qua với việc tiếp tục điều trị. Có mức tăng đáng kể ALT hoặc AST (khoảng hơn 3 lần mức giới hạn trên) được ghi nhận ở khoảng 1% số bệnh nhân tham gia nghiên cứu có điều trị NSAID. Ngoài ra, hiếm gặp các trường hợp phản ứng ở gan nghiêm trọng bao gồm viêm gan bùng phát chí tử và vàng da, hoại tử gan và suy gan, đã ghi nhận một số trường hợp có kết cục tử vong (xem phần Tác dụng không mong muốn).

Một người bệnh có các triệu chứng và/hoặc các dấu hiệu gợi ý rối loạn chức năng gan, hoặc ở người có xét nghiệm chức năng gan bất thường, phải được đánh giá các bằng chứng hình thành một phản ứng gan trầm trọng trong lúc điều trị với meloxicam. Nếu các triệu chứng và dấu hiệu tương đồng với sự hình thành của bệnh gan, hoặc có các biểu hiện toàn thân xảy ra (ví dụ, tăng bạch cầu ái toan, nổi ban, ...), phải ngừng sử dụng meloxicam.

- Tăng huyết áp:

Các NSAID, bao gồm meloxicam, có thể dẫn đến khởi phát một tăng huyết áp mới hoặc làm tệ hơn tình trạng tăng huyết áp sẵn có, điều này có thể góp phần làm tăng tần số các biến cố tim mạch. Các NSAID, bao gồm meloxicam, phải được dùng cẩn thận ở những bệnh nhân có tăng huyết áp. Phải theo dõi huyết áp chặt chẽ trong thời gian bắt đầu sử dụng NSAID và trong suốt tiến trình điều trị

Những bệnh nhân uống các thuốc ức chế men chuyển, lợi tiểu thiazide hoặc các thuốc lợi tiểu quai để trị tăng huyết áp có thể bị giảm đáp ứng điều trị này khi uống các NSAID.

- Suy tim ứ huyết và phù:

Ứ đọng dịch và phù đã được thấy ở một số bệnh nhân uống các NSAID. Cẩn thận khi sử dụng meloxicam ở những bệnh nhân có tình trạng ứ đọng dịch, tăng huyết áp, hoặc suy tim.

- Các tác động lên thận:

Sử dụng dài hạn các NSAID, bao gồm meloxicam, có thể gây ra hoại tử nhú thận, suy giảm chức năng thận, suy thận cấp, và các tổn thương thận khác. Độc tính cho thận cũng được thấy ở những bệnh nhân có vai trò bù trừ của prostaglandin để duy trì sự tưới máu thận. Ở những bệnh nhân này, sử dụng một NSAID có thể gây một tình trạng giảm tạo ra prostaglandin phụ thuộc liều dùng, và sau đó, giảm lưu lượng máu đến thận, điều này có thể thúc đẩy làm bộc lộ sự mất bù của thận. Những bệnh nhân có nguy cơ cao nhất cho phản ứng này là những người có suy giảm chức năng thận, suy tim, rối loạn chức năng gan, những người uống thuốc lợi tiểu, uống thuốc ức chế men chuyển, uống thuốc chẹn thụ thể angiotensin II, và những người cao tuổi. Sau khi ngừng điều trị NSAID thường sẽ trở về tình trạng như trước khi điều trị.

Một nghiên cứu dược động học ở những bệnh nhân có suy giảm chức năng thận từ nhẹ đến vừa cho thấy không cần phải điều chỉnh liều ở những nhóm bệnh nhân này. Những bệnh nhân suy giảm chức năng thận nặng chưa được nghiên cứu. Khuyến cáo không sử dụng meloxicam ở những bệnh nhân suy giảm chức năng thận với độ thanh thải creatinin dưới 20 ml/phút. Một nghiên cứu thực hiện ở những bệnh nhân có thẩm tách máu phát hiện ra, mặc dù Cmax nói chung là giảm ở những người này, nhưng tỷ lệ thuốc tự do không bị gắn bởi protein huyết tương lại gia tăng. Vì thế, khuyên dùng meloxicam ở những bệnh nhân này không được vượt quá mức liều 7.5 mg/ngày. Cần theo dõi chặt chẽ chức năng thận ở những bệnh nhân có suy giảm chức năng thận mà lại dùng meloxicam.

Sử dụng cẩn thận khi bắt đầu điều trị meloxicam ở những bệnh nhân có sự mất nước đáng kể. Khuyên bồi hoàn nước cho bệnh nhân trước rồi sau đó mới bắt đầu điều trị với meloxicam. Cũng khuyên cẩn thận ở những bệnh nhân có bệnh thận trước đó.

Mức độ tích lũy của các chất chuyển hóa ở những bệnh nhân suy giảm chức năng thận và dùng meloxicam chưa được nghiên cứu. Bởi vì meloxicam được bài thải qua đường thận, cần giám sát chặt những bệnh nhân có suy giảm chức năng thận đáng kể.

- Các phản ứng phản vệ:

Cũng như với NSAID khác, các phản ứng phản vệ đã xảy ra ở những bệnh nhân không biết có sự tiếp xúc với meloxicam trước đó. Không được cho uống meloxicam ở những bệnh nhân đã có dùng aspirin. Phức hợp triệu chứng này xảy ra điển hình ở những bệnh nhân hen suyễn có trải qua viêm mũi có hoặc không có các polyp ở mũi, hoặc ở những người có co thắt phế quản nặng có khả năng gây chết người sau khi uống aspirin hoặc NSAID khác (xem phần Chống chỉ định). Cần phải trợ giúp cấp cứu với những trường hợp xảy ra phản ứng phản vệ.

- Các phản ứng bất lợi ở da:

Các NSAID, bao gồm meloxicam, có thể gây ra các biến có bất lợi trầm trọng ở da như là viêm da tróc vảy, hội chứng Stevens¬Johnson, và hoại tử ngoại bì nhiễm độc, mà có thể gây chết người. Những biến cố trầm trọng này có thể xảy ra mà không có dấu hiệu cảnh báo. Phải thông tin cho bệnh nhân về các triệu chứng và dấu hiệu của các biểu hiện trầm trọng ở da và ngừng sử dụng thuốc ngay khi có nổi ban ở da hoặc có bất cứ dấu hiệu của sự tăng nhạy cảm.

- Điều trị corticosteroid:

Không được điều trị meloxicam đồng thời với thuốc corticosteroid vì tăng nguy cơ xảy ra các tác dụng có hại, nhất là ở đường tiêu hóa. Meloxicam cũng không được dùng để điều trị thay thế cho corticosteroid trong các trường hợp điều trị dài hạn với corticosteroid.

- Che giấu triệu chứng sốt và viêm:

Hoạt tính dược lý của meloxicam làm giảm sốt và giảm viêm, điều này có thể làm lu mờ các dấu hiệu chẩn đoán phát hiện các biến chứng của một bệnh lý khác ngoài nhiễm trùng, của các chứng đau.

- Các tác động huyết học:

Thiếu máu có thể xảy ra ở những bệnh nhân uống các NSAID, bao gồm meloxicam. Điều này có thể do ứ đọng dịch, mất máu do xuất huyết rầm rộ hoặc kín đáo ở đường tiêu hóa, hoặc tác động chưa được biết rõ trên quá trình tạo hồng cầu. Những bệnh nhân được điều trị dài hạn với NSAID, bao gồm meloxicam, phải được kiểm tra về dung tích hồng cầu hay hemoglobin nếu họ có bất cứ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào của thiếu máu.

Các NSAID ức chế sự kết tập tiểu cầu và được chứng tỏ làm kéo dài thời gian máu chảy ở một vài bệnh nhân. Không giống aspirin, tác động của những thuốc này trên chức năng tiểu cầu ít hơn về mặt số lượng, có thời gian tác động ngắn hơn, và có thể đảo ngược. Theo dõi cẩn thận các bệnh nhân được điều trị với meloxicam, mà những người này có thể bị tác động bất lợi do thay đổi chức năng tiểu cầu, giống như ở bệnh nhân có các rồi loạn đông máu hoặc bệnh nhân đang dùng các thuốc chống đông.

- Sử dụng ở người có tiền sử hen phế quản:

Những bệnh nhân mắc hen có thể có cơn hen nhạy cảm với aspirin. Ở những bệnh nhân có cơn hen nhạy cảm với aspirin, việc dùng aspirin đi kèm với tình trạng co thắt phế quản nặng, có thể gây tử vong. Bởi vì có phản ứng chéo, bao gồm co thắt phế quản, giữa aspirin và các NSAID đã được ghi nhận ở những bệnh nhân có cơn hen nhạy cảm với aspirin, vì thế không được sử dụng meloxicam cho những bệnh nhân có nhạy cảm với aspirin theo hình thức này và phải cẩn thận khi dùng thuốc này ở người có tiền sử hen phế quản.

- Theo dõi:

Bởi vì loét và xuất huyết đường tiêu hóa trầm trọng có thể xảy ra mà không có bất cứ triệu chứng cảnh báo nào, bác sĩ phải giám sát các dấu hiệu và triệu chứng của xuất huyết đường tiêu hóa, Những bệnh nhân điều trị dài hạn với các NSAID phải được kiểm tra định kỳ các xét nghiệm sinh hóa và công thức máu. Nếu các triệu chứng và dấu hiệu trên lâm sàng nhất quán với sự hình thành bệnh thận hoặc bệnh gan, các biểu hiện toàn thân xảy ra (ví dụ, tăng bạch cầu ái toan, nổi ban, v.v...) hoặc nếu các bất thường xét nghiệm chức năng gan vẫn duy trì hoặc xấu hơn, phải ngừng thuốc meloxicam.

- Lactose: do thuốc này có chứa lactose, khuyên không dùng thuốc này trong các trường hợp không dung nạp galactose, thiếu lactase, chứng kém hấp thu glucose và galactose (bệnh chuyển hóa hiếm gặp)

* Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú

Phụ nữ có thai

Không có nghiên cứu đầy đủ và đối chứng tốt trên phụ nữ có thai. Meloxicam đi qua hàng rào nhau thai. Không dùng meloxicam cho phụ nữ đang mang thai vì nguy cơ ống động mạch đóng sớm hoặc nguy cơ tiềm ẩn khác đối với vào thai.

Phụ nữ cho con bú

Không nên dùng meloxicam cho phụ nữ đang nuôi con bằng sữa mẹ vì nguy cơ phản ứng phụ nghiêm trọng đối với trẻ. Nếu cần dùng thuốc cho mẹ thì không nên nuôi con bằng sữa mẹ.

* Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc

Meloxicam có thể gây ra tác dụng phụ không mong muốn như chóng mặt, buồn ngủ. Do vậy, không nên dùng thuốc khi đang tham gia các hoạt động này.

Tương tác thuốc (Những lưu ý khi dùng chung thuốc với thực phẩm hoặc thuốc khác)

- Nói chung: qua các nghiên cứu tương tác thuốc in vifro cho thấy meloxicam được chuyển hóa chủ yếu thông qua đồng enzym CYP 2C9, và một phần thông qua đồng enzym CYP 3A4 tại gan. Chống chỉ định sử dụng đồng thời meloxicam với những thuốc được biết có tác động ức chế CYP 2C9. Phải thận trọng khi sử dụng đồng thời meloxicam với những thuốc được biết có tác động ức chế CYP 3A4 (ví dụ, ketoconazole, itraconazole, và erythromycine) hoặc với những thuốc được biết là chuyển hóa bởi CYP 3A4 (ví dụ, terfenadine, astemizole, cyclosporine, và các thuốc điều trị rối loạn nhịp tim nhóm lIl như là amiodarone và quinidine).

- Các thuốc kháng acid: không phát hiện có tương tác dược động học khi dùng đồng thời với các thuốc kháng acid.

- Cimetidine: sử dụng đồng thời 200mg cimetidine uống 4 lần trong ngày đã không làm thay đổi gì cho một liều đơn 30mg meloxicam.

- Digoxin: uống meloxicam 15 mg một lần mỗi ngày trong 7 ngày không làm thay đổi nồng độ digoxin trong huyết tương sau khi sử dụng bêta-acetyldigoxin với liều dùng trên lâm sàng trong 7 ngày. Các thử nghiệm in vifro không thấy có tương tác về mặt gắn protein huyết tương giữa digoxin và meloxicam.

- Frusemide (furosemide): trong các thử nghiệm lâm sàng cũng như trong các quan sát sau khi thuốc được lưu hành cho thấy các NSAID có thể làm giảm tác động thải natri của frusemide và các thuốc lợi tiểu thiazid ở một số bệnh nhân. Tác động này được góp phần bởi tác động ức chế tổng hợp prostaglandin tại thận. Các nghiên cứu với các thuốc frusemide và meloxicam không thấy có giảm tác động lợi tiểu. Đặc tính dược động và dược lực của frusemide với liều đơn và nhiều liều lập lại không bị tác động bởi nhiều liều meloxicam. Tuy nhiên, khi sử dụng đồng thời frusemide và meloxicam, người bệnh phải được theo dõi chặt về các dấu hiệu suy giảm chức năng thận, cũng như bảo đảm hiệu quả lợi tiểu.

- Các thuốc ức chế CYP P450: chống chỉ định sử dụng đồng thời meloxicam với những thuốc ức chế CYP 2C9. Thận trọng khi sử dụng đồng thời meloxicam với những thuốc ức chế CYP 3A4.

- Các thuốc ức chế tổng hợp prostaglandin khác bao gồm glucocorticoid và các salicylat (acid acetylsalicylic): khuyên không sử dụng đồng thời các thuốc ức chế tổng hợp prostaglandin vì thông qua sự hiệp đồng tác động có thể làm tăng nguy cơ bị loét hay xuất huyết ở đường tiêu hóa.

- Các thuốc uống chống đông máu, các thuốc kháng tiểu cầu, heparin sử dụng đường toàn thân, thuốc làm tan huyết khối, và thuốc ức chế tái thu hồi serotonin chọn lọc (SSRI): khi sử dụng đồng thời với các NSAID, có thể làm tăng nguy cơ chảy máu thông qua sự ức chế chức năng tiểu cầu. Nếu không tránh được việc sử dụng đồng thời này, cần phải giám sát chặt tác động của các thuốc này lên quá trình đông máu.

- Lithium: các thuốc NSAID được báo cáo làm tăng nồng độ của lithium trong huyết tương (thông qua tác động giảm bài tiết lithium qua thận) tới mức có thể gây độc tính. Khuyến cáo không dùng chung lithium và các NSAID. Nếu sự phối hợp điều trị là cần thiết, phải theo dõi cẩn thận nồng độ lithium trong huyết tương lúc bắt đầu điều trị, lúc điều chỉnh liều và lúc rút bỏ điều trị meloxicam.

- Methotrexate: meloxicam không có tác động đáng kể trên dược động học của một liều đơn methotrexate. Nghiên cứu in vifro cho thấy methotrexate đã không thế chỗ của meloxicam trong các chỗ gắn ở huyết thanh người. Tuy nhiên, cũng như các thuốc NSAID khác, meloxicam có thể làm tăng độc tính trên huyết học của methotrexate. Trong tình huống này khuyến cáo theo dõi chặt công thức máu.

Các NSAID có thể làm giảm bài tiết methotrexate qua ống thận bởi đó làm tăng nồng độ methotrexate trong huyết tương. Bởi vì lý do này, khuyên không dùng đồng thời với các NSAID ở những người dùng methotrexate liều cao (hơn 15mg/tuần). Nguy cơ tương tác thuốc giữa các NSAID và methotrexate cũng cần được xem xét ở những bệnh nhân dùng methotrexate liều thấp, đặc biệt ở những người suy giảm chức năng thận. Trong trường hợp điều trị phối hợp là cần thiết, phải theo dõi sát chức năng thận và công thức máu. Phải thận trọng trong trường hợp cả methotrexate và meloxicam được cho dùng trong vòng 3 ngày, lúc mà nồng độ của methotrexate trong huyết tương có thể tăng và gây độc tính. Mặc dù dược động học của methotrexate (15 mg/tuần) không bị ảnh hưởng khi dùng đồng thời với meloxicam, nhưng phải chú ý rằng độc tính trên huyết học của methotrexate có thể bị khuếch đại do việc điều trị với các NSAID.

- Pemetrexed: đối với trường hợp sử dụng đồng thời meloxicam với pemetrexed ở những bệnh nhân có độ thanh thải creatinin từ 45 đến 79 ml/phút, việc sử dụng meloxicam phải được ngưng lại 5 ngày trước, tại ngày đó, và 2 ngày sau khi sử dụng pemetrexed. Nếu điều trị phối hợp meloxicam và pemetrexed là cần thiết, phải theo dõi sát bệnh nhân, nhất là về sự ức chế tủy xương và các phản ứng bất lợi ở đường tiêu hóa. Khuyến cáo không sử dụng đồng thời meloxicam và pemetrexed ở những bệnh nhân có độ thanh thải creatinin dưới 45 ml/phút.

- Tránh thai: các NSAID được báo cáo là làm giảm hiệu quả tránh thai của các dụng cụ đặt trong tử cung.

- Các thuốc lợi tiểu: điều trị với NSAID đi kèm với nguy cơ suy thận cấp ở những bệnh nhân bị mất nước. Các bệnh nhân dùng meloxicam và các thuốc lợi tiểu phải được bồi hoàn đủ nước và phải theo dõi chức năng thận trước khi bắt đầu điều trị.

- Cyclosporin: các NSAID làm tăng độc tính cyclosporin trên thận thông qua tác động điều hòa tổng hợp prostaglandin. Trong thời gian điều trị phối hợp, phải đo lường chức năng thận.

- Các thuốc điều trị tăng huyết áp (thuốc chẹn bêta, thuốc ức chế men chuyển, thuốc giãn mạch, thuốc lợi tiểu) các NSAID được báo cáo có thể làm giảm tác dụng của các thuốc điều trị tăng huyết áp thông qua sự ức chế các prostaglandin gây giãn mạch.

- Các thuốc đối vận với thụ thể angiotensin II: các NSAID và các thuốc đối vận thụ thể angiotensin II cũng như các thuốc ức chế men chuyển thúc đẩy một tác động hiệp lực làm giảm độ lọc cầu thận. Ở những bệnh nhân suy chức năng thận tồn tại trước đó có thể dẫn đến suy thận cấp.

- Cholestyramin: cholestyramin gắn với meloxicam ở đường tiêu hóa dẫn đến tăng thải trừ meloxicam.

- Các thuốc uống làm hạ đường huyết: có thể thấy trước sự tương tác thuốc thông qua CYP 2C9 khi phối hợp các chế phẩm uống làm hạ đường huyết (ví dụ, sulfonylurea), khi đó có thể gia tăng nồng độ trong huyết tương của các thuốc này và meloxicam. Những bệnh nhân sử dụng đồng thời meloxicam và các sulfonylurea phải được theo dõi cần thận tình trạng hạ đường huyết.

Bảo quản: Nhiệt độ không quá 30oC, tránh ánh sáng và ẩm

Đóng gói: Hộp 3 vỉ x 10 viên

Thương hiệu: Sanofi Aventis

Nơi sản xuất: Công ty cổ phần dược phẩm AMPHARCO U.S.A (Việt Nam)

Mọi thông tin trên đây chỉ mang tính chất tham khảo. Việc sử dụng thuốc phải tuân theo hướng dẫn của bác sĩ, dược sĩ.

Vui lòng đọc kĩ thông tin chi tiết ở tờ rơi bên trong hộp sản phẩm.